Danh mục đồ dùng – đồ chơi – thiết bị dạy học tối thiểu cho giáo dục mầm non là văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo liệt kê những món mỗi nhóm trẻ, lớp mẫu giáo cần có để thực hiện chương trình, chia theo nhóm tuổi. Bản được nhắc nhiều nhất là danh mục ban hành kèm Thông tư 02/2010/TT-BGDĐT, sau đó có văn bản sửa đổi, bổ sung. Vì danh mục có thể được thay thế khi chương trình thay đổi, người lập kế hoạch mua sắm luôn phải kiểm bản đang có hiệu lực trên cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật chính thức trước khi dùng.
Văn bản này dài, nhiều bảng, nhiều cột, nên phần lớn người đọc lần đầu chỉ lướt cột tên thiết bị. Bài này giải thích cách văn bản được sắp xếp, mỗi cột cho bạn biết điều gì, chữ "tối thiểu" nên hiểu thế nào, và những chỗ hay đọc sai khi chuyển danh mục thành danh sách mua cho một lớp cụ thể.
Văn bản này là gì và dùng vào việc gì
Chương trình giáo dục mầm non quy định trẻ ở mỗi độ tuổi được tổ chức những hoạt động gì. Danh mục thiết bị tối thiểu là phần "vật chất" đi kèm: để tổ chức được các hoạt động đó, một nhóm trẻ hay một lớp mẫu giáo cần có những đồ dùng, đồ chơi, thiết bị, học liệu nào. Văn bản không nói cô dạy thế nào, cũng không quy định giá hay nơi mua.
Trong thực tế, danh mục được dùng vào ba việc. Thứ nhất là lập kế hoạch mua sắm: trường mới, lớp mới mở hoặc khi thay chương trình, người phụ trách đối chiếu danh mục để biết phải có những gì. Thứ hai là rà soát định kỳ: đầu năm học, so đồ đang có với danh mục để thấy chỗ thiếu. Thứ ba là căn cứ khi cơ quan quản lý hoặc đoàn kiểm định chất lượng xem xét điều kiện cơ sở vật chất của trường.
Danh mục khác với quy định về tiêu chuẩn cơ sở vật chất của trường mầm non (diện tích phòng, khối công trình, sân vườn). Hai loại văn bản đi cùng nhau nhưng trả lời hai câu hỏi khác: một bên là phòng ốc, công trình; một bên là đồ đặt trong phòng. Bài này chỉ bàn phần đồ.
Danh mục được chia theo nhóm tuổi như thế nào
Theo cách bố cục quen thuộc của danh mục tối thiểu, đồ được sắp theo từng nhóm tuổi của chương trình, tách nhà trẻ và mẫu giáo. Cách chia cụ thể cần kiểm trong văn bản hiện hành; bảng dưới giúp bạn hình dung khung chung:
| Khối | Nhóm tuổi thường gặp | Đặc điểm đồ trong danh mục |
|---|---|---|
| Nhà trẻ | Trẻ dưới 12 tháng, 12–24 tháng, 24–36 tháng | Đồ to, chất liệu mềm hoặc nhẵn, nhiều đồ sinh hoạt và chăm sóc, đồ chơi cảm giác, vận động bò, đi |
| Mẫu giáo bé | 3–4 tuổi | Đồ chơi theo góc bắt đầu rõ, đồ vận động cơ bản, tranh và rối cho ngôn ngữ |
| Mẫu giáo nhỡ | 4–5 tuổi | Thêm đồ toán và khám phá, đồ tạo hình đa dạng hơn |
| Mẫu giáo lớn | 5–6 tuổi | Đồ có chi tiết nhỏ hơn, đồ làm quen chữ và số qua trò chơi, đồ khám phá khoa học đơn giản |
Trong mỗi nhóm tuổi, các món thường được gom theo loại: đồ dùng (phục vụ sinh hoạt), thiết bị dạy học – đồ chơi – học liệu (thường sắp theo lĩnh vực phát triển), và sách, tài liệu. Khi đọc, bạn nên đánh dấu nhóm tuổi của lớp mình trước rồi mới đọc từng dòng, tránh nhặt nhầm món của nhóm tuổi khác.
Mỗi cột trong bảng danh mục cho bạn biết điều gì
Tên thiết bị. Là tên chung của món đồ, không phải tên thương mại. Một dòng "bộ đồ chơi nấu ăn" có thể ứng với nhiều sản phẩm khác nhau trên thị trường; việc của người mua là chọn sản phẩm đáp ứng phần mô tả.
Mô tả hoặc yêu cầu cơ bản. Cột quan trọng nhất mà hay bị bỏ qua. Ở đây ghi cỡ, chất liệu, số chi tiết, công dụng hoặc yêu cầu an toàn ở mức chung. Hai sản phẩm cùng tên nhưng một cái không đạt phần mô tả thì không tính là đủ.
Đơn vị tính. Bộ, cái, chiếc, tờ, quyển. Chữ "bộ" cần đọc kỹ: một bộ gồm những gì phải khớp với phần mô tả, không phải cứ một hộp là một bộ.
Số lượng. Thường tính cho một nhóm trẻ hay một lớp với sĩ số theo quy định, có món tính theo trẻ, có món tính theo lớp hoặc theo trường. Đọc nhầm đơn vị đối tượng là lỗi phổ biến nhất khi chuyển thành danh sách mua.
Ghi chú. Có thể ghi món đó dùng chung cho nhiều lớp, dùng cho cô hay cho trẻ, hoặc trường tự làm, sưu tầm được. Đây là chỗ cho biết món nào không bắt buộc phải mua mới.
Chữ "tối thiểu" nên hiểu thế nào
"Tối thiểu" là sàn chứ không phải trần. Một lớp có đủ mọi dòng trong danh mục vẫn có thể thiếu đồ so với sĩ số thật, với số góc chơi đang mở, hay với cách tổ chức hoạt động của trường. Ngược lại, có món trong danh mục mà trường đã có đồ tương đương tốt hơn hoặc giáo viên tự làm được, khi đó cần đối chiếu phần mô tả và ghi chú để biết có được tính là đáp ứng hay không.
Hiểu "tối thiểu" là sàn giúp tránh hai lỗi ngược nhau. Lỗi thứ nhất là mua đúng từng dòng rồi cho là đủ, trong khi lớp đông hơn sĩ số tính trong danh mục hoặc trẻ phải chờ lượt quá lâu. Lỗi thứ hai là coi danh mục như danh sách hàng phải mua mới toàn bộ, trong khi nhiều món đã có, chỉ cần sửa, vệ sinh hoặc thay một phần.
Một điểm nữa: danh mục không xếp hạng sản phẩm và không chỉ định nhà cung cấp. Lời giới thiệu kiểu "bộ này đúng chuẩn thông tư" từ phía người bán chỉ có giá trị khi bạn tự đối chiếu được từng chi tiết với phần mô tả trong văn bản, cộng với các yêu cầu an toàn đồ chơi trẻ em như dấu hợp quy.
Chuyển danh mục thành danh sách mua cho một lớp
Từ văn bản đến danh sách mua là một bước dịch, và bước dịch này nên làm theo thứ tự cố định để không sót:
- Xác định nhóm tuổi và sĩ số thật của lớp, ghi cả sĩ số tối đa có thể nhận trong năm.
- Trích riêng phần danh mục của nhóm tuổi đó ra một bảng tính, giữ nguyên các cột tên, mô tả, đơn vị, số lượng, ghi chú.
- Thêm cột "lớp đang có", "tình trạng", "cần mua thêm", "dùng chung với lớp nào".
- Đi kiểm thực tế từng dòng trong lớp và kho, không điền theo trí nhớ.
- Điều chỉnh số lượng theo sĩ số thật và số góc chơi, ghi lý do khi lệch khỏi số trong danh mục.
- Đánh dấu món tự làm được, món mượn dùng chung được, món buộc phải mua.
- Gửi bản nháp cho tổ chuyên môn hoặc giáo viên đứng lớp xem lại trước khi chốt.
Bảng tính có đủ cột như trên cũng chính là bộ khung cho sổ theo dõi thiết bị của lớp sau này, nên công lập một lần dùng được nhiều năm.
Những chỗ hay đọc sai
Khi rà lại các danh sách mua sắm được lập từ danh mục, những lỗi sau lặp lại nhiều nhất:
- Lấy nhầm danh mục của nhóm tuổi khác, nhất là với lớp ghép hoặc lớp chuyển nhóm tuổi giữa năm.
- Tính số lượng theo lớp cho món mà danh mục tính theo trẻ, hoặc ngược lại.
- Chỉ đọc cột tên, bỏ cột mô tả, nên mua món cùng tên mà không đạt cỡ hay chất liệu yêu cầu.
- Mua mỗi lớp một bộ cho món ghi chú là dùng chung toàn trường, trong khi lại thiếu món dùng riêng.
- Dùng bản danh mục cũ đã được sửa đổi, bổ sung mà không biết, vì tải từ một trang chia sẻ tài liệu không ghi ngày.
- Coi danh mục như giới hạn trên, không mua thêm dù lớp đông và trẻ phải chờ lượt.
Cách phòng lỗi đơn giản nhất là có hai người đọc độc lập: một người lập danh sách, một người khác so lại với văn bản gốc theo đúng nhóm tuổi.
Đạt danh mục và đạt an toàn là hai lần kiểm khác nhau
Danh mục trả lời câu hỏi "có đủ món chưa". Nó cho biết lớp cần loại đồ gì, bao nhiêu, cỡ và công dụng ra sao. Một món đạt dòng mô tả trong danh mục vẫn có thể không đạt yêu cầu an toàn nếu sơn bong, cạnh sắc hay có chi tiết nhỏ rời ra được.
An toàn đồ chơi theo quy chuẩn riêng. Đồ chơi trẻ em lưu thông ở Việt Nam phải theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn đồ chơi trẻ em (QCVN 3:2019/BKHCN) và mang dấu hợp quy. Đây là yêu cầu với sản phẩm, không phụ thuộc vào việc món đó có tên trong danh mục hay không.
Đồ dùng không phải đồ chơi cũng cần kiểm. Bàn ghế, giường, kệ, đồ ăn uống của trẻ có yêu cầu riêng về chất liệu, độ chắc, chống lật. Danh sách mua nên có thêm một cột "đã kiểm an toàn" bên cạnh cột "đạt mô tả danh mục".
Hai lần kiểm nên do hai người. Người đối chiếu danh mục thường là cán bộ phụ trách thiết bị; người kiểm an toàn nên có cả giáo viên đứng lớp, vì cô là người thấy rõ nhất trẻ sẽ cầm, cắn, trèo lên món đồ đó thế nào. Chi tiết về nhãn hợp quy có ở chuyên mục an toàn đồ chơi.
Kiểm bản đang có hiệu lực ở đâu
Danh mục thiết bị gắn với chương trình giáo dục mầm non, và chương trình đã được sửa đổi nhiều lần. Vì vậy danh mục có thể đã có văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc được thay thế. Trước mỗi đợt mua lớn, bạn nên tra trên cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật hoặc cổng thông tin của Bộ Giáo dục và Đào tạo, xem văn bản còn hiệu lực hay không, có văn bản nào sửa đổi kèm theo.
Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành thường có hướng dẫn riêng về mua sắm thiết bị, nhất là với trường công lập dùng ngân sách. Sau sắp xếp đơn vị hành chính từ tháng 7/2025, việc quản lý trường mầm non ở nhiều nơi đã chuyển sang cấp xã, phường, nên đầu mối hỏi về hướng dẫn mua sắm có thể đã thay đổi so với trước; bạn nên hỏi lại nơi quản lý trực tiếp hiện nay.
Đừng dùng bản danh mục chép lại trên các trang chia sẻ tài liệu mà không ghi rõ số hiệu, ngày ban hành. Bản chép có thể sót bảng, nhầm số lượng hoặc là bản cũ. Bản dùng để lập kế hoạch nên là bản tải từ nguồn chính thức, lưu kèm ngày tải để người sau biết căn cứ.
Câu hỏi thường gặp
Thông tư 02/2010/TT-BGDĐT còn hiệu lực không?
Danh mục ban hành kèm thông tư này đã có văn bản sửa đổi, bổ sung và có thể được thay thế khi chương trình giáo dục mầm non thay đổi. Trước khi dùng làm căn cứ mua sắm, bạn nên tra tình trạng hiệu lực trên cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật chính thức và hỏi nơi quản lý trực tiếp.
Danh mục có quy định giá hay nhãn hiệu thiết bị không?
Không. Danh mục chỉ nêu tên, mô tả hoặc yêu cầu cơ bản, đơn vị tính, số lượng và ghi chú. Giá và nhà cung cấp do trường tự lựa chọn theo quy định mua sắm áp dụng cho mình. Lời quảng cáo "đúng chuẩn thông tư" cần được đối chiếu với từng dòng mô tả.
Đồ tự làm có được tính vào danh mục tối thiểu không?
Một số dòng có ghi chú cho phép giáo viên tự làm hoặc sưu tầm. Với các dòng đó, đồ tự làm đáp ứng phần mô tả và an toàn cho trẻ thì có thể tính. Với dòng không có ghi chú như vậy, nên hỏi tổ chuyên môn hoặc nơi quản lý trước khi tính đồ tự làm thay đồ mua.
Nhóm trẻ độc lập có phải đủ danh mục như trường mầm non không?
Nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập cũng thực hiện chương trình giáo dục mầm non nên danh mục là căn cứ quan trọng khi chuẩn bị đồ dùng. Điều kiện cụ thể để được hoạt động thuộc quy định riêng về cơ sở giáo dục mầm non độc lập, cần hỏi cơ quan quản lý nơi đặt nhóm lớp.
Lớp có nhiều trẻ hơn sĩ số tính trong danh mục thì làm sao?
Danh mục là mức sàn tính cho sĩ số quy định. Khi lớp đông hơn, bạn tăng số lượng các món dùng theo trẻ và món cho các góc đông trẻ chơi, ghi rõ lý do trong danh sách mua. Đồng thời nên kiểm lại sĩ số có còn trong giới hạn cho phép hay không.
Tìm bản danh mục chính thức ở đâu?
Tra theo số hiệu văn bản trên cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật hoặc cổng thông tin của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Lưu bản tải về kèm ngày tải, và ghi rõ trong hồ sơ mua sắm rằng danh sách được lập theo bản nào.