Dưới cầu trượt, nhà leo, xích đu ở trường mầm non nên lót một bề mặt giảm chấn, và bốn lựa chọn thông dụng nhất là thảm cao su tấm ghép, cao su đổ tại chỗ (EPDM), cỏ nhân tạo có lớp đệm bên dưới, và cát hoặc vật liệu rời. Không có loại nào tốt nhất cho mọi sân. Cao su đổ tại chỗ phẳng liền, dễ đi lại, ít phải trông; cát giảm chấn tốt nếu đủ dày nhưng phải cào lại thường xuyên; cỏ nhân tạo chỉ an toàn khi có lớp đệm đúng loại bên dưới; thảm tấm ghép dễ thay từng tấm nhưng mép nối có thể bong.
Thứ quyết định không phải tên vật liệu mà là độ dày và độ phủ so với chiều cao thiết bị. Gạch, bê tông, đá mài, nhựa đường, cũng như cỏ tự nhiên và đất nện, không được các bộ hướng dẫn an toàn sân chơi coi là bề mặt giảm chấn. Bài viết dưới đây so sánh bốn lựa chọn theo những gì một trường mầm non ở Việt Nam thật sự gặp: nắng, mưa, thoát nước, vệ sinh và người dọn dẹp.
Bốn lựa chọn đặt cạnh nhau
Bảng dưới so theo những tiêu chí mà người mua hay hỏi. Mỗi ô là mô tả chung; chất lượng thực tế khác nhau nhiều giữa các nhà làm, nên vẫn phải đòi thông số cụ thể của sản phẩm định mua.
| Tiêu chí | Thảm cao su tấm ghép | Cao su đổ tại chỗ | Cỏ nhân tạo có lớp đệm | Cát, vật liệu rời |
|---|---|---|---|---|
| Giảm chấn | Tốt nếu đủ dày theo chiều cao thiết bị | Tốt nếu lớp đệm dưới đủ dày | Phụ thuộc hoàn toàn vào lớp đệm | Tốt khi đủ dày và tơi xốp |
| Đi lại, xe lăn, xe đẩy | Dễ | Rất dễ, phẳng liền | Dễ | Khó |
| Nóng dưới nắng | Nóng, nhất là màu sậm | Nóng, nhất là màu sậm | Nóng, sợi nhựa giữ nhiệt | Mặt cát cũng nóng nhưng bới xuống mát hơn |
| Thoát nước | Qua khe và lỗ thoát dưới tấm | Thấm qua nếu nền dưới làm đúng | Qua lớp đệm và nền | Tốt nếu có lớp đá thoát bên dưới |
| Bảo trì hằng ngày | Ít, quét rác | Ít, quét rác | Chải sợi, nhặt rác kẹt | Nhiều: cào phẳng, bổ sung, che đậy |
| Hỏng thường gặp | Bong mép, xô tấm, khe hở | Nứt, lõm, bong mép viền | Lớp đệm xẹp, sợi xơ, lộ mối nối | Trôi, mỏng chỗ hay rơi, lẫn rác |
Nhìn bảng sẽ thấy không loại nào miễn bảo trì. Khác nhau là kiểu bảo trì: cát cần người cào mỗi ngày, cao su cần người để ý mép và chỗ lõm, cỏ nhân tạo cần kiểm lớp đệm định kỳ. Trường nên chọn kiểu bảo trì mà mình thật sự làm được.
Độ dày lớp lót tính theo chiều cao rơi
Khái niệm cốt lõi là chiều cao rơi: khoảng cách từ điểm cao nhất trẻ có thể đứng hoặc đu trên thiết bị xuống mặt đất. Với cầu trượt, đó thường là sàn đứng; với khung leo, đó là thanh cao nhất trẻ với tới; với xích đu, đó là độ cao chốt treo. Lớp lót phải giảm chấn đủ cho cú rơi từ độ cao đó. Các tiêu chuẩn như EN 1177 của châu Âu và ASTM F1292 của Mỹ đưa ra phép thử để đo xem một bề mặt giảm chấn được cho chiều cao rơi tới hạn bao nhiêu.
Vì vậy, khi mua thảm hay cỏ nhân tạo, câu hỏi đúng không phải "thảm dày mấy phân" mà là "lớp lót này đã được thử cho chiều cao rơi tới hạn bao nhiêu, theo tiêu chuẩn nào". Một tấm cao su dày nhưng là cao su đặc, cứng, có thể giảm chấn kém hơn tấm mỏng hơn nhưng có cấu trúc đệm. Nhà cung cấp nghiêm túc sẽ có bảng tra: độ dày nào ứng với chiều cao rơi nào.
Với vật liệu rời như cát, cẩm nang an toàn sân chơi công cộng của CPSC khuyên duy trì lớp vật liệu rời dày tối thiểu khoảng 23 cm (9 inch) ở khu vực dưới và quanh thiết bị, và khi mới đổ nên đổ dày hơn vì vật liệu sẽ lèn xuống theo thời gian. Mốc này dùng để hình dung; độ dày đúng cho từng thiết bị vẫn phải đối chiếu với chiều cao rơi thật và hướng dẫn của nhà sản xuất. Cũng cần nhớ lớp lót phải phủ hết vùng trẻ có thể ngã xuống, không chỉ ngay dưới chân thiết bị.
Thảm cao su: tấm ghép hay đổ tại chỗ
Thảm tấm ghép. Thường là tấm vuông làm từ hạt cao su tái chế ép với lớp mặt màu. Ưu điểm là lắp nhanh, thay được từng tấm khi hỏng, có thể đặt trên nền bê tông sẵn có nếu nền phẳng và có độ dốc thoát nước. Nhược điểm là mép nối: sau một thời gian, nếu dán hoặc khoá không chắc, các tấm co giãn theo nhiệt, hở mép làm trẻ vấp.
Cao su đổ tại chỗ. Gồm lớp đệm hạt cao su đen bên dưới và lớp mặt hạt màu (thường là EPDM) bên trên, trộn keo rồi trải liền trên nền. Bề mặt liền, không khe, đẹp, đi lại dễ. Chất lượng phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề thợ và tỷ lệ keo: trộn ít keo thì bề mặt bở, hạt bong; trộn sai thì lớp mặt nứt.
Mùi và chất lượng hạt. Cao su mới có mùi là thường gặp, nhưng mùi hắc kéo dài nhiều tuần, hạt bở vỡ khi miết tay, hoặc bề mặt dính nhớt dưới nắng là dấu hiệu nên hỏi lại về nguyên liệu và keo. Có thể đề nghị nhà cung cấp cho biết nguồn hạt và loại keo dùng.
Màu sắc. Màu sậm hút nhiệt mạnh. Ở sân không có bóng mát, nên chọn tông sáng cho phần lớn diện tích, chỉ dùng màu đậm để làm đường viền hoặc hoạ tiết nhỏ.
Nền bên dưới. Cao su đổ tại chỗ cần nền bê tông hoặc nền đá được đầm chắc, có độ dốc để nước thoát. Đổ lên nền lún hay nền đọng nước, lớp cao su sẽ phồng, lõm sau vài mùa mưa.
Cỏ nhân tạo chỉ an toàn khi có lớp đệm
Cỏ nhân tạo được nhiều trường thích vì trông xanh, sạch, không bụi. Nhưng phần cỏ (sợi nhựa) gần như không giảm chấn. Thứ giảm chấn là lớp đệm bên dưới: tấm xốp đệm chuyên dụng hoặc một lớp cao su đổ. Cỏ nhân tạo trải thẳng trên nền bê tông, chỉ có lớp lót mỏng, thì về mặt giảm chấn gần như không khác gì nền bê tông được phủ một tấm thảm.
Khi mua, hãy yêu cầu nhà cung cấp tách riêng hai phần trong báo giá: phần cỏ và phần đệm, mỗi phần có thông số. Phần đệm phải đi kèm thông tin chiều cao rơi tới hạn đã thử. Nếu chỉ báo giá "cỏ nhân tạo sân chơi" một dòng, rất có thể lớp đệm không có hoặc không đủ.
Cỏ nhân tạo còn có vài điểm cần biết. Sợi nhựa giữ nhiệt nên mặt cỏ có thể nóng vào trưa hè; một số loại cỏ dùng hạt cao su rắc giữa sợi cỏ (hạt độn), loại này dễ dính vào quần áo, giày và trẻ nhỏ có thể cho vào miệng, nên với khu mầm non, nhiều trường chọn loại không dùng hạt độn rời. Sau mưa, cỏ khô nhanh hơn cát nhưng chậm hơn cao su nếu lớp nền thoát nước kém. Rác nhỏ, lá cây và đồ ăn rơi vãi kẹt giữa sợi, cần chải và hút định kỳ.
Cát và vật liệu rời: rẻ để đổ, tốn công để giữ
Cát là vật liệu giảm chấn cổ điển và vẫn rất tốt nếu giữ được độ dày và độ tơi. Ưu điểm lớn của cát là khi trẻ ngã, nó lún và tản lực tự nhiên; trẻ lại thích chơi cát. Nhược điểm là cát không đứng yên: trẻ chạy, đá, xúc cát làm lớp lót mỏng dần ở đúng những chỗ hay rơi nhất như miệng máng trượt, dưới xích đu. Vì vậy cát đòi hỏi việc cào phẳng gần như mỗi ngày, bổ sung định kỳ, và có bờ chắn để cát không tràn ra lối đi.
Loại cát dùng cho sân chơi nên là cát đã rửa, sàng, hạt tròn, ít bụi và không lẫn vỏ sò, đá dăm. Cát xây dựng chưa sàng thường lẫn sỏi sắc và nhiều bụi mịn. Bên dưới lớp cát nên có lớp đá hoặc sỏi thoát nước và một lớp vải địa kỹ thuật ngăn cát trộn xuống, nếu không mỗi mùa mưa cát sẽ biến thành bùn.
Cát ngoài trời còn có chuyện vệ sinh: chó mèo có thể vào phóng uế, rác và vật sắc có thể lẫn vào. Khu cát dưới thiết bị khó che đậy như hố cát chơi riêng, nên cần quy trình cào kiểm tra trước giờ chơi. Ngoài cát, một số nơi dùng vụn gỗ chuyên dụng hoặc hạt cao su rời; các vật liệu này có ưu nhược điểm riêng, nhưng hạt cao su rời nhỏ thì không hợp với nhóm trẻ còn hay cho đồ vào miệng.
Phối nhiều loại lót trên cùng một sân
Ít sân trường nào dùng một loại lót cho tất cả. Cách phối hay gặp và hợp lý là: cao su đổ tại chỗ hoặc thảm tấm cho vùng dưới thiết bị leo trèo, cầu trượt và lối đi chính; một khu cát riêng có bờ chắn cho chơi cát; cỏ nhân tạo có đệm cho khoảng sân chạy nhảy, tập thể dục chung. Chia như vậy giúp mỗi vùng dùng đúng vật liệu hợp với hoạt động ở đó.
Chỗ cần để ý nhất khi phối là đường giáp ranh. Nếu cao su cao hơn cỏ vài phân, hoặc cát tràn sang làm trơn mặt cao su, đường giáp ranh trở thành chỗ trẻ vấp ngã. Nên làm viền chặn chắc, vát mép, và để mặt các vùng ngang nhau. Cát nên có bờ cao vừa đủ giữ cát nhưng không thành bậc vấp; nhiều trường làm thêm một dải cao su hoặc thảm chùi giữa khu cát và khu cao su để giảm cát bị mang sang.
Khi phối, nhà trường cũng nên ghi lại trên sơ đồ sân loại lót của từng vùng, ngày thi công và đơn vị thi công. Mấy năm sau cần sửa một góc, có sơ đồ này sẽ biết gọi ai, mua vật liệu gì cho khớp với phần còn lại.
Nghiệm thu lớp lót sau khi thi công
Lớp lót là phần dễ bị làm ẩu nhất vì nằm dưới chân, ít ai nhìn kỹ. Khi nhà thầu báo xong, người phụ trách nên đi một vòng với danh sách sau:
- Đo độ phủ: lớp lót có phủ hết vùng trống quanh từng thiết bị theo bản vẽ không, nhất là phía trước miệng máng và phía trước, phía sau xích đu.
- Đo độ dày ở vài điểm, đặc biệt ở mép và chỗ chuyển tiếp; với cát thì cắm thước xuống ở chỗ hay rơi.
- Đi bộ trên toàn bộ bề mặt: có chỗ lõm, phồng, mềm bất thường hay hở mép không.
- Đổ thử một xô nước ở vài chỗ: nước có thấm hoặc chảy đi, hay đọng thành vũng.
- Kiểm viền: mép thảm, mép cao su có được chặn hoặc vát, không tạo bậc làm trẻ vấp.
- Nhận giấy tờ: thông số vật liệu, chiều cao rơi tới hạn đã thử (nếu có), hướng dẫn vệ sinh, điều kiện bảo hành.
- Chụp ảnh hiện trạng từng khu ngày nghiệm thu, lưu cùng hồ sơ, để sau này so khi có hỏng hóc.
Nếu lớp lót không đạt ở bước nào, ghi vào biên bản và hẹn ngày khắc phục trước khi cho trẻ dùng thiết bị. Một sân đẹp mà nền dưới thiết bị chưa đạt thì chưa nên mở.
Câu hỏi thường gặp
Thảm xốp ghép loại hay trải phòng ngủ có dùng dưới cầu trượt ngoài sân được không?
Không nên. Thảm xốp ghép trong nhà mỏng, không được thiết kế cho chiều cao rơi từ thiết bị sân chơi, lại nhanh mục dưới nắng mưa. Ngoài sân nên dùng vật liệu chuyên cho sân chơi có thông số giảm chấn.
Cao su đổ tại chỗ có độc không?
Không thể kết luận chung. Chất lượng phụ thuộc nguồn hạt và loại keo. Nhà trường nên yêu cầu nhà cung cấp nêu rõ nguyên liệu, cho xem mẫu, để ý mùi sau khi thi công và hỏi về thời gian chờ trước khi cho trẻ dùng.
Sân nhỏ trong nhóm trẻ gia đình nên chọn loại nào?
Nếu sân đã có nền bê tông phẳng, thảm cao su tấm ghép thường dễ làm nhất, thay từng tấm được. Nếu thiết bị thấp và có người cào hằng ngày, một khung cát có bờ chắn cũng là lựa chọn hợp lý.
Bao lâu thì phải thay lớp lót?
Không có mốc chung. Thay hoặc sửa khi thấy lõm ở chỗ hay rơi, bong mép, nứt, cỏ nhân tạo xẹp đệm, hoặc cát mỏng không bổ sung lại được. Theo dõi bằng ảnh chụp định kỳ giúp thấy rõ mức xuống cấp.
Có cần lót cả lối đi giữa các thiết bị không?
Lối đi không bắt buộc là bề mặt giảm chấn, nhưng nên phẳng, không trơn và không có bậc chuyển cao giữa lối đi với vùng lót. Bậc chuyển là chỗ trẻ hay vấp ngã nhất.
Mùa mưa thì loại lót nào khô nhanh nhất?
Cao su đổ tại chỗ trên nền có độ dốc thường khô nhanh nhất. Cát có lớp đá thoát bên dưới cũng khô khá nhanh. Cỏ nhân tạo khô nhanh hay chậm tuỳ lớp đệm và nền; nền kém thì nước đọng lâu trong đệm.