Không có một con số chung cho mọi lớp: bàn ghế mầm non vừa cỡ khi mặt ghế cao xấp xỉ chiều dài từ khoeo chân tới gót của trẻ, thường vào khoảng một phần tư chiều cao cơ thể, và mặt bàn cao hơn mặt ghế chừng 18–22 cm. Với trẻ cao quanh 1 mét, điều đó thường rơi vào mặt ghế khoảng 24–26 cm và mặt bàn khoảng 43–47 cm. Trẻ nhỏ hơn cần thấp hơn, trẻ lớp lá cao lớn cần cao hơn.
Chỗ sai phổ biến nhất khi mua là chọn theo dòng chữ "cho bé 3–5 tuổi" trên catalogue. Trong cùng một lớp chồi, trẻ thấp nhất và cao nhất có thể chênh nhau cả gang tay. Bài này hướng dẫn ba mẹ và nhà trường đo trẻ, tính cỡ, quyết định một lớp cần mấy cỡ, khi nào nên chọn loại chỉnh được độ cao, và những kích thước phụ ít ai để ý nhưng làm trẻ ngồi khó chịu cả năm học.
Hai con số quyết định: chiều cao mặt ghế và khoảng chênh tới mặt bàn
Người bán thường ghi chiều cao tổng của bàn và ghế, nhưng với trẻ, thứ quan trọng là hai con số đo từ sàn: chiều cao mặt ngồi của ghế (không tính tựa lưng) và chiều cao mặt bàn. Từ hai con số này suy ra con số thứ ba: khoảng chênh giữa mặt ghế và mặt bàn, quyết định trẻ có phải nhô vai lên hay cúi gập người xuống khi tô vẽ.
Mặt ghế đúng cỡ khi trẻ ngồi sát vào tựa lưng, hai bàn chân đặt phẳng trên sàn, đầu gối gập xấp xỉ vuông góc và mép trước của ghế không ép vào mặt sau đầu gối. Ghế cao quá thì chân lơ lửng, trẻ trượt ra mép ghế để chạm đất và ngồi không có chỗ tựa. Ghế thấp quá thì gối nhô cao hơn hông, trẻ ngồi co và chóng mỏi.
Mặt bàn đúng cỡ khi trẻ ngồi thẳng, cánh tay buông tự nhiên rồi gập khuỷu, cẳng tay đặt lên mặt bàn mà vai không phải nhấc lên. Bàn cao quá làm trẻ nhún vai, kê cằm, viết vẽ bằng cả cánh tay. Bàn thấp quá làm trẻ cúi gập lưng, mặt sát giấy. Một bộ bàn ghế mua lệch nhau, dù mỗi món riêng lẻ vừa cỡ, vẫn cho ra khoảng chênh sai. Vì vậy khi mua nên đo cả hai món cùng lúc và chọn theo bộ, hoặc ít nhất ghi lại khoảng chênh trước khi chốt.
Bảng tham khảo: chiều cao trẻ và cỡ bàn ghế tương ứng
Bảng dưới tính theo quy tắc gần đúng ở đầu bài: mặt ghế khoảng 0,25 lần chiều cao trẻ, mặt bàn cao hơn mặt ghế 18–22 cm. Các con số được làm tròn và chỉ là ví dụ giả định để định hướng, không thay cho việc đo trẻ thật.
| Chiều cao trẻ | Mặt ghế khoảng | Mặt bàn khoảng | Thường gặp ở |
|---|---|---|---|
| 80–90 cm | 20–22 cm | 38–42 cm | trẻ nhà trẻ 18–30 tháng |
| 90–100 cm | 22–25 cm | 41–45 cm | lớp mầm, đầu lớp chồi |
| 100–110 cm | 25–27 cm | 44–48 cm | lớp chồi, đầu lớp lá |
| 110–120 cm | 27–30 cm | 47–51 cm | lớp lá, trẻ cao lớn |
| trên 120 cm | 30–33 cm | 50–55 cm | trẻ lá cao vượt, đầu tiểu học |
Cách chia cỡ theo chiều cao như trên cũng là tinh thần của một số tiêu chuẩn nước ngoài về bàn ghế trường học, chẳng hạn bộ tiêu chuẩn châu Âu EN 1729, nơi mỗi cỡ được gắn với một khoảng chiều cao của người ngồi chứ không với lứa tuổi. Ở Việt Nam, yêu cầu về cơ sở vật chất trường mầm non nằm trong tiêu chuẩn thiết kế trường mầm non và các thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo; khi mua cho trường, nhà trường nên đối chiếu văn bản hiện hành và catalogue kỹ thuật của nhà cung cấp, không dựa riêng vào bảng tham khảo này.
Bảng cũng cho thấy một điều: khoảng nhảy giữa hai hàng chỉ 2–3 cm. Chênh 3 cm nghe nhỏ nhưng với chân một đứa trẻ 4 tuổi, đó là khác biệt giữa bàn chân đặt phẳng và bàn chân kiễng mũi.
Đo trẻ để chọn cỡ: năm phút cho mỗi lớp
Ba mẹ mua cho góc ở nhà chỉ cần đo một bé. Nhà trường mua cho cả lớp nên đo mẫu vài trẻ thấp nhất, vài trẻ cao nhất và vài trẻ ở giữa. Cách làm:
- Đo chiều cao đứng của trẻ, chân trần, lưng sát tường. Nhà trường thường đã có số đo này trong sổ theo dõi sức khoẻ đầu năm, không cần đo lại cả lớp.
- Đo chiều cao khoeo chân: cho trẻ ngồi trên một chiếc ghế hay bậc thấp sao cho đầu gối vuông góc, bàn chân phẳng; đo từ sàn tới mặt dưới đùi sát đầu gối. Con số này gần như chính là chiều cao mặt ghế nên có.
- Đo chiều cao khuỷu tay khi ngồi: trẻ ngồi thẳng, tay buông, gập khuỷu; đo từ mặt ghế tới mặt dưới khuỷu tay. Mặt bàn nên cao hơn mặt ghế bằng con số này, cộng hoặc trừ một hai phân.
- Ghi số đo vào một bảng nhỏ theo từng trẻ hoặc từng nhóm, rồi xem số đo phân bố ra sao: dồn vào một khoảng hẹp hay trải rộng.
- Đối chiếu với kích thước ghi trong catalogue kỹ thuật của nhà cung cấp. Nếu được, mượn một chiếc ghế mẫu cho vài trẻ ngồi thử trước khi đặt số lượng lớn.
Nên đo vào đầu năm học và đo lại giữa năm. Trẻ mầm non lớn nhanh; một chiếc ghế vừa khít hồi tháng Chín có thể đã thấp vào tháng Ba. Ghi lại ngày đo để lần sau so được.
Một lớp có cần nhiều cỡ bàn ghế không
Thường là có, ít nhất hai cỡ. Trong một lớp cùng độ tuổi, chênh lệch chiều cao giữa trẻ thấp nhất và cao nhất thường đủ để vượt qua một cỡ. Nếu chỉ mua một cỡ ở giữa, trẻ thấp ngồi lơ lửng chân, trẻ cao ngồi co gối. Mua hai cỡ liền kề, phần lớn theo cỡ của số đông, phần nhỏ theo cỡ lớn hơn hoặc nhỏ hơn, là cách xử lý phổ biến.
Tỷ lệ chia theo số đo thật. Ví dụ giả định: một lớp chồi 30 trẻ, số đo khoeo chân dồn nhiều ở 24–26 cm nhưng có 7 trẻ dưới 23 cm. Nhà trường có thể chọn 23 ghế cỡ 25 cm và 7 ghế cỡ 22 cm, bàn tương ứng. Năm sau lớp lên lá, chính bộ cỡ nhỏ chuyển sang lớp mầm.
Lớp ghép nhiều độ tuổi cần trải cỡ rộng hơn. Nhóm trẻ ghép từ 3 đến 5 tuổi ở nhóm lớp độc lập hay điểm trường nhỏ cần ba cỡ hoặc dùng loại chỉnh được độ cao, nếu không thì trẻ lớn luôn phải ngồi thấp.
Bàn ghế đi theo cặp. Khi có hai cỡ ghế mà chỉ một cỡ bàn, khoảng chênh lại sai với một nhóm. Cách gọn là xếp mỗi bàn một cỡ ghế: bàn thấp đi với ghế thấp, bàn cao với ghế cao, đánh dấu màu hoặc dán chấm tròn ở chân để cô và trẻ dễ nhận ra.
Bàn ghế điều chỉnh độ cao: lúc nào đáng mua
Bàn ghế chỉnh được độ cao thường có chân rút với chốt cài theo nấc, hoặc chân ren vặn. Ưu điểm rõ ràng: một bộ dùng được qua nhiều lứa, dễ chia lại khi lớp thay đổi sĩ số, hợp với nhóm trẻ ghép tuổi và với góc ở nhà nơi con lớn dần. Nhược điểm là có thêm bộ phận chuyển động: chốt có thể lỏng, khe nấc có thể kẹp ngón tay, ren có thể tự xoay khi trẻ lắc ghế.
Nên mua loại chỉnh được khi lớp ghép tuổi, khi trường thường xuyên đổi phòng giữa các khối, hoặc khi ba mẹ muốn một bộ dùng cho con từ 2 tới 6 tuổi. Không nhất thiết khi lớp đồng tuổi, sĩ số ổn định và trường đủ chỗ cất bộ cỡ dư.
Kiểm loại chỉnh được kỹ hơn loại cố định. Thử ấn mạnh xuống mặt ghế ở mỗi nấc xem chốt có tụt. Thử xem chốt có cần dụng cụ mới mở được không; loại trẻ tự bấm mở được là không phù hợp với lớp mầm non. Xem khe nấc có che kín hay hở, có vừa ngón tay trẻ không. Hỏi nhà cung cấp chốt và chân thay thế có bán lẻ không, vì đây là chi tiết hỏng trước tiên. Cuối cùng, nhắc người phụ trách lớp chỉnh tất cả chân về cùng một nấc trên một chiếc bàn: bàn chỉnh lệch nấc là bàn chênh, đồ trên bàn trượt về một phía.
Những kích thước phụ ít ai hỏi nhưng trẻ cảm nhận cả ngày
Ngoài chiều cao, catalogue kỹ thuật tử tế còn ghi thêm vài kích thước. Nếu không có, ba mẹ và nhà trường nên hỏi hoặc tự đo trên hàng mẫu.
- Chiều sâu mặt ghế: trẻ ngồi sát tựa lưng mà mép ghế vẫn chừa một khoảng nhỏ sau đầu gối. Mặt ghế sâu quá khiến trẻ phải ngồi ra mép, mất chỗ tựa.
- Độ rộng mặt ghế: đủ cho hông trẻ cùng chút quần áo, không cần rộng hơn; ghế rộng quá vừa chiếm chỗ vừa nặng.
- Tựa lưng: đỡ vùng thắt lưng, hơi ngả ra sau; tựa lưng thẳng đứng làm trẻ ngồi đổ người về trước.
- Khoảng trống dưới bàn: đủ cao để đùi trẻ không chạm khung bàn khi ngồi; nhiều bàn có thanh giằng ngang dưới mặt bàn quá thấp, trẻ cao cấn đùi.
- Phần mặt bàn cho mỗi trẻ: đủ đặt một tờ giấy vẽ khổ lớn cùng hộp bút mà khuỷu tay không chạm bạn bên cạnh.
- Trọng lượng ghế: nhẹ để trẻ tự kéo, tự khiêng, nhưng không nhẹ tới mức lật khi trẻ ngả lưng.
- Độ cao tổng khi xếp chồng: với ghế xếp chồng được, chồng ghế không nên cao quá tầm vai cô, tránh đổ khi lấy.
Lỗi hay gặp khi mua bàn ghế theo cỡ
Phần lớn sai sót không đến từ hàng kém mà từ việc mua mà không đo. Những lỗi dưới đây gặp nhiều ở cả nhà trường lẫn ba mẹ.
- Chọn theo lứa tuổi in trên catalogue mà không đo trẻ; mỗi hãng chia lứa tuổi một kiểu, cùng chữ "3–6 tuổi" mà chiều cao mặt ghế có thể lệch nhau vài phân.
- Mua ghế một nơi, bàn một nơi, không kiểm khoảng chênh; hai món đúng cỡ riêng nhưng ghép lại vẫn sai.
- Mua toàn bộ một cỡ cho cả khối để được giá sỉ, rồi phải kê thêm gạch hay sách dưới chân trẻ thấp.
- Nghĩ "mua to một chút cho con dùng lâu"; trẻ ngồi ghế cao quá suốt hai năm để tiết kiệm một lần mua.
- Đo trên hàng mẫu ở cửa hàng, nhận hàng về không đo lại; lô sản xuất có thể lệch so với mẫu trưng bày.
- Bỏ qua chân ghế: lót cao su, nút nhựa, bánh trượt cũng cộng thêm vài milimet tới một phân vào chiều cao thực.
- Không ghi lại cỡ đã mua; vài năm sau mua bổ sung không biết đặt cỡ nào để khớp với bộ cũ.
Một cách làm đơn giản cho nhà trường là lập một trang ghi chép cho mỗi lớp: số đo trẻ đầu năm, cỡ bàn ghế đang dùng, số lượng từng cỡ và ngày mua. Trang ghi chép này giúp cả việc mua bổ sung lẫn việc chuyển bàn ghế giữa các lớp khi trẻ lên lớp.
Câu hỏi thường gặp
Bé 2 tuổi ở nhà nên dùng ghế cao bao nhiêu?
Trẻ quanh 2 tuổi thường cao khoảng 85–90 cm, mặt ghế phù hợp hay rơi vào khoảng 20–22 cm và bàn khoảng 38–42 cm. Ba mẹ nên đo khoeo chân của bé khi ngồi gối vuông để có con số chính xác hơn, vì cùng một tuổi các bé cao thấp khác nhau khá nhiều.
Ghế ăn có khay của bé có thay được ghế ngồi bàn mầm non không?
Không nên coi là thay thế. Ghế ăn có khay giữ bé ở độ cao ngang bàn người lớn, có đai và khay riêng, phục vụ bữa ăn trong gia đình. Ghế ngồi bàn mầm non thấp, để bé tự leo lên xuống và đặt chân trên sàn khi tô vẽ hay chơi. Hai loại phục vụ hai việc khác nhau.
Có nên chọn ghế có tay vịn cho trẻ mẫu giáo không?
Với trẻ mẫu giáo, ghế không tay vịn thường tiện hơn vì trẻ dễ kéo sát bàn và ra vào nhanh. Ghế có tay vịn hợp hơn với trẻ nhà trẻ còn ngồi chưa vững, hoặc với trẻ cần thêm chỗ bám. Dù loại nào, cần kiểm tay vịn không tạo khe kẹp ngón tay với mặt bàn.
Làm sao biết ghế đang dùng đã thấp so với trẻ?
Dấu hiệu dễ thấy là đầu gối trẻ nhô cao hơn hông khi ngồi, trẻ hay duỗi chân ra trước hoặc ngồi xổm lên ghế. Khi phần lớn trẻ trong lớp có dấu hiệu này vào giữa năm, đã đến lúc đổi sang cỡ lớn hơn hoặc nâng nấc nếu ghế chỉnh được.
Bàn tròn hay bàn chữ nhật thì kích thước có khác không?
Chiều cao mặt bàn chọn theo cùng nguyên tắc, không phụ thuộc hình dạng. Khác biệt nằm ở chỗ chia mặt bàn cho mỗi trẻ: bàn tròn cần đường kính đủ để mỗi trẻ có một khoảng hình quạt đặt giấy, bàn chữ nhật thì tính theo chiều dài cạnh cho từng chỗ ngồi.
Mua bàn ghế cho trường có cần đối chiếu quy định nào không?
Có. Nhà trường nên đối chiếu tiêu chuẩn thiết kế trường mầm non và các thông tư hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo về cơ sở vật chất, thiết bị, đồng thời yêu cầu nhà cung cấp ghi rõ kích thước trong hồ sơ kỹ thuật. Văn bản có thể được sửa đổi, nên luôn kiểm bản đang có hiệu lực.