Không có chất liệu tốt nhất cho mọi lớp: gỗ tự nhiên bền và sửa được nhưng nặng, dễ cong nứt nếu sấy kém; gỗ công nghiệp phẳng, rẻ, đủ kiểu dáng nhưng phải kiểm phát thải và chống ẩm; nhựa nhẹ, dễ rửa, hợp khu ăn uống nhưng có loại giòn khi già; khung thép chắc nhưng cần sơn tốt và bịt kín đầu ống. Chọn đúng là chọn theo nơi đặt, cách dùng và việc lau rửa hằng ngày.
Bài này đặt bốn nhóm vật liệu cạnh nhau, rồi đi vào từng nhóm: dấu hiệu hàng tốt, chỗ hay bị làm ẩu, giấy tờ nên hỏi, và cách chọn theo khí hậu nồm ẩm miền Bắc hay nắng nóng miền Nam. Bài không bàn về giá hay hãng; chỉ những tiêu chí ba mẹ và nhà trường tự kiểm được khi xem hàng.
Bốn nhóm chất liệu đặt cạnh nhau
Bảng dưới gom các khác biệt chính. Mỗi ô là xu hướng chung; một sản phẩm cụ thể có thể tốt hơn hoặc kém hơn tuỳ cách làm.
| Tiêu chí | Gỗ tự nhiên | Gỗ công nghiệp | Nhựa đúc | Khung thép + mặt gỗ/nhựa |
|---|---|---|---|---|
| Trọng lượng | nặng nhất | trung bình | nhẹ nhất | trung bình |
| Chịu nước, lau ướt | khá nếu phủ kín | kém ở cạnh và lỗ vít | tốt | tốt nếu sơn kín |
| Sửa chữa | dễ: chà, sơn lại, thay nan | khó khi đã nở | gần như không | thay mặt, sơn lại khung |
| Điểm cần kiểm | độ khô, nứt, dằm, mối mọt | phát thải, dán cạnh, lõi chịu ẩm | loại nhựa, độ dày, giòn | mối hàn, đầu ống, gỉ |
| Hợp với | góc chơi, lớp khô ráo | lớp học, tủ kệ trong nhà | khu ăn, sân hiên, nhà trẻ | lớp đông, dùng nhiều năm |
Nhìn bảng có thể thấy không loại nào thắng ở mọi dòng. Nhiều trường dùng phối hợp: bàn ghế học chính bằng gỗ hoặc khung thép mặt gỗ, bàn ghế khu ăn hoặc hiên bằng nhựa, tủ kệ bằng gỗ công nghiệp chịu ẩm.
Khi so hai sản phẩm khác chất liệu, nên so theo vòng đời chứ không theo ngày nhận hàng: món nào sửa được khi hỏng, món nào phải bỏ cả chiếc, món nào cần lau khô sau mỗi bữa, món nào chịu được nước xà phòng. Một bộ bàn ghế nặng, bền nhưng trẻ không tự kéo được cũng là lựa chọn sai cho lớp nhà trẻ, dù trên giấy nó thắng ở mọi dòng về độ bền.
Gỗ tự nhiên: bền nếu gỗ đã khô, đáng ngại nếu gỗ còn tươi
Bàn ghế gỗ tự nhiên cho trẻ thường làm từ các loại gỗ rừng trồng phổ biến như cao su, keo (tràm), thông, bạch dương nhập khẩu, đôi khi sồi hay tần bì. Với trẻ mầm non, loại gỗ ít quan trọng hơn hai việc: gỗ đã được sấy tới độ ẩm ổn định chưa, và bề mặt được xử lý thế nào.
Gỗ sấy chưa tới nơi sẽ co ngót sau vài tháng: mộng lỏng, chân lắc, mặt bàn nứt chân chim, thậm chí bung nan. Ở miền Bắc mùa nồm, gỗ hút ẩm rồi mùa hanh nhả ẩm, mộng càng dễ lỏng. Khi xem hàng, ba mẹ và nhà trường có thể nhìn đầu gỗ có vết nứt toác không, mặt bàn có cong vênh khi đặt thước lên không, mối ghép có khe hở không. Hỏi nhà cung cấp gỗ được sấy thế nào và bảo hành ra sao nếu cong nứt trong năm đầu.
Bề mặt gỗ cho trẻ phải chà nhẵn kỹ ở mọi chỗ tay chạm, kể cả mặt dưới bàn, mặt trong chân ghế, nơi trẻ hay sờ khi ngồi. Dằm gỗ là lỗi hay gặp nhất ở hàng làm vội. Mắt gỗ to, mắt chết dễ bong ra thành lỗ, nên tránh ở mặt ngồi và mặt bàn. Gỗ tự nhiên cũng cần kiểm dấu mối mọt: lỗ nhỏ, bột gỗ rơi dưới chân. Ưu điểm lớn của gỗ tự nhiên là sửa được: trầy thì chà lại, bong sơn thì sơn lại, nan gãy thì thay, nhờ vậy dùng được nhiều năm.
Gỗ công nghiệp: phẳng, nhiều kiểu, nhưng phải hỏi ba điều
Ván loại gì. Gỗ công nghiệp hay gặp gồm ván dăm (thường phủ melamine, gọi là MFC), ván sợi (MDF) và ván ép nhiều lớp (plywood). Ván ép nhiều lớp thường giữ vít và chịu lực tốt hơn ván dăm, hợp với mặt ghế và chân. Ván dăm phủ melamine phẳng, nhiều màu, hợp với cánh tủ, vách kệ.
Phát thải formaldehyde ở cấp nào. Keo dùng trong ván có thể nhả formaldehyde, một chất gây kích ứng mắt, mũi, họng. Ván được phân cấp theo mức phát thải, thường gặp các ký hiệu như E2, E1, E0 hay chuẩn CARB P2; cấp càng thấp càng ít phát thải. Với đồ đặt trong phòng trẻ ngủ và chơi cả ngày, nên yêu cầu ván có cấp phát thải thấp và xin phiếu kết quả thử nghiệm của lô ván, không chỉ lời hứa.
Có chịu ẩm không. Ván thường gặp nước ở cạnh và lỗ vít là nở phồng, không cứu được. Ván lõi chịu ẩm (nhiều nơi gọi lõi xanh) chịu tốt hơn nhưng vẫn không phải chống nước. Ở khu rửa tay, khu ăn, hoặc lớp hay lau ướt, cạnh ván phải được dán kín bằng nẹp cạnh dày, mép bo tròn, và lỗ vít phải có nắp che.
Thêm một dấu hiệu dễ nhận. Mùi. Đồ gỗ công nghiệp mới mở hộp có mùi hắc, cay mắt kéo dài nhiều ngày là dấu hiệu nên hỏi lại cấp phát thải. Dù hàng đạt chuẩn, vẫn nên mở thùng, để đồ ở nơi thoáng vài ngày trước khi đưa vào phòng ngủ của trẻ.
Nhựa đúc: nhẹ, dễ rửa, nhưng nhựa nào và dày bao nhiêu
Bàn ghế nhựa đúc liền khối rất phổ biến ở lớp nhà trẻ và khu ăn vì nhẹ, trẻ tự khiêng được, lau rửa bằng nước xà phòng, xếp chồng gọn. Loại nhựa hay dùng là PP và HDPE; một số đồ có chi tiết ABS. Ba mẹ có thể tìm ký hiệu nhựa dập nổi dưới mặt ghế, thường là con số trong tam giác mũi tên cùng chữ viết tắt.
Nhựa nguyên sinh và nhựa tái chế khác nhau ở độ bền và độ đồng đều. Ghế nhựa làm từ nhựa tái chế kém chất lượng thường có màu đục, lốm đốm, mùi lạ, và giòn nhanh. Nhựa để ngoài nắng nhiều năm sẽ bạc màu rồi giòn, có thể nứt đột ngột khi trẻ ngả lưng. Với đồ dùng ở hiên hay sân, nên hỏi nhựa có phụ gia chống tia cực tím không.
Độ dày thành nhựa và gân tăng cứng dưới mặt ghế quyết định ghế có võng khi trẻ ngồi hay không. Cách thử đơn giản: một người lớn ấn mạnh tay xuống giữa mặt ghế và tựa lưng, xem có lún, kêu răng rắc hay bật trắng nhựa ở chỗ uốn. Lật ghế lên xem chân có nút chống trượt, nút có gắn chắc hay chỉ cắm hờ. Nhựa đúc tốt có mép tròn, không còn ba-via sắc ở đường khuôn; mép sắc ở mặt dưới bàn là nơi đầu gối trẻ hay quẹt vào.
Khung thép: chắc chắn, nhưng nhìn kỹ mối hàn và đầu ống
Bàn ghế khung thép (thường là ống tròn hoặc hộp vuông) kết hợp mặt gỗ hoặc mặt nhựa chịu được lớp đông, dùng nhiều năm, ít lỏng mộng. Điểm yếu nằm ở các chi tiết nhỏ.
- Lớp sơn: sơn tĩnh điện phủ đều, không có chỗ sơn mỏng lộ thép ở mối hàn, góc cong. Sơn bong là gỉ bắt đầu, nhất là ở vùng ven biển.
- Mối hàn: mài nhẵn, không còn xỉ hàn sắc. Sờ tay vào mặt trong khung, nơi người kiểm hay bỏ qua.
- Đầu ống: phải có nút bịt kín. Đầu ống hở vừa là cạnh sắc, vừa là lỗ trẻ có thể thò ngón tay vào và kẹt.
- Nút chân: gắn chắc, không rút ra bằng tay được. Nút chân rời ra là một vật nhỏ mà trẻ nhà trẻ có thể cho vào miệng.
- Bu lông nối mặt và khung: đầu bu lông chìm hoặc có nắp che, không nhô ra ở mặt dưới bàn nơi đầu gối trẻ chạm.
- Khe giữa khung và mặt: không tạo khe vừa ngón tay trẻ, nhất là ở ghế gấp và bàn có chân gấp.
- Bản lề và cơ cấu gấp: nếu có, phải có khoá chắc và không tự gập khi trẻ dựa vào.
Khung thép cũng nặng hơn nhựa, nên với lớp nhà trẻ nơi trẻ tự kéo ghế, cần cân nhắc trọng lượng từng chiếc.
Lớp hoàn thiện: sơn, dầu phủ và chuyện chì
Lớp hoàn thiện là thứ trẻ chạm, liếm, gặm trực tiếp, nên quan trọng không kém phần thân. Đồ gỗ cho trẻ thường dùng sơn gốc nước, dầu lau gỗ, hoặc sơn PU. Sơn gốc nước ít mùi, nhanh bay hơi dung môi; sơn PU cứng, chịu lau chùi nhưng có mùi dung môi lúc mới. Dù loại nào, đồ cần được để khô kiệt trước khi giao; mặt sơn còn dính tay hay còn mùi nặng là chưa đạt.
Kim loại nặng trong sơn, đặc biệt chì, là mối lo đã được nhắc nhiều với đồ trẻ em. Đồ chơi ở Việt Nam có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn đồ chơi (QCVN 3:2019/BKHCN) giới hạn kim loại nặng có thể thôi nhiễm; bàn ghế là đồ nội thất nên không nằm trong phạm vi quy chuẩn đồ chơi, nhưng nhà trường vẫn có quyền yêu cầu nhà cung cấp cho biết loại sơn dùng và cung cấp phiếu thử nghiệm kim loại nặng của lớp sơn. Không có giấy tờ thì ít nhất nên chọn sơn có công bố rõ ràng của nhà sản xuất sơn.
Một chi tiết hay bị bỏ quên là bề mặt sau khi trầy. Sơn phủ dày trên gỗ mềm hay bị mẻ thành vảy ở cạnh; vảy sơn bong là thứ trẻ nhỏ nhặt bỏ miệng. Bàn ghế có cạnh bo tròn, sơn mỏng ngấm vào gỗ hoặc dầu phủ thường mòn đều chứ không bong vảy, nên an toàn hơn về lâu dài.
Chọn theo khí hậu, nơi đặt và việc lau rửa
Lớp ở miền Bắc, mùa nồm kéo dài. Ưu tiên gỗ đã sấy kỹ, ván chịu ẩm dán cạnh kín, khung thép sơn tĩnh điện tốt. Tránh ván dăm thường ở chân bàn sát sàn, nơi hơi ẩm và nước lau sàn đọng lại.
Lớp ở vùng biển như Khánh Hòa, Quảng Ninh. Hơi muối làm thép gỉ nhanh; nếu dùng khung thép, kiểm lớp sơn ở mối hàn kỹ hơn, hoặc chọn khung nhôm, nhựa, gỗ.
Khu ăn và khu rửa. Nhựa đúc hoặc mặt bàn phủ laminate chịu nước, cạnh kín. Gỗ tự nhiên vẫn dùng được nếu phủ kín và lau khô sau bữa, nhưng tốn công hơn.
Hiên và sân có mái. Nhựa có phụ gia chống tia cực tím hoặc gỗ ngoài trời đã xử lý; tránh ván công nghiệp thông thường.
Lớp học chính, khô ráo. Gỗ tự nhiên hoặc khung thép mặt gỗ cho cảm giác ấm, chắc, ít tiếng ồn khi kéo hơn ghế nhựa nhẹ.
Góc chơi ở nhà. Ba mẹ có thể chọn gỗ tự nhiên hoặc ván ép nhiều lớp phủ sơn gốc nước, kích thước vừa bé, nhẹ để bé tự kéo; không cần loại chịu tải nặng như ở trường.
Câu hỏi thường gặp
Bàn ghế nhựa có độc cho trẻ không?
Bàn ghế làm bằng nhựa PP hay HDPE nguyên sinh, không mùi lạ, thường được dùng rộng rãi cho trẻ. Rủi ro lớn hơn nằm ở nhựa tái chế kém chất lượng, màu sắc loang lổ, mùi hắc, hoặc nhựa đã già giòn sau nhiều năm phơi nắng. Nên hỏi loại nhựa và nguồn gốc, kiểm ký hiệu dưới mặt ghế.
Gỗ công nghiệp có nên dùng cho phòng ngủ trưa của trẻ không?
Có thể dùng nếu ván có cấp phát thải formaldehyde thấp, có phiếu thử nghiệm, cạnh được dán kín và đồ được để thoáng vài ngày trước khi đưa vào phòng. Phòng ngủ cần thông gió tốt. Nếu đồ mới còn mùi hắc rõ, nên dời ra chỗ thoáng cho tới khi hết mùi.
Làm sao biết gỗ tự nhiên đã sấy đủ khô?
Người mua khó tự đo độ ẩm nếu không có máy đo cầm tay, nhưng có thể nhìn dấu hiệu: đầu gỗ không nứt, mặt bàn phẳng khi đặt thước, mộng khít. Hỏi nhà cung cấp quy trình sấy và cam kết bảo hành cong nứt trong năm đầu; nơi làm cẩn thận thường trả lời được cụ thể.
Ghế nhựa xếp chồng có an toàn cho lớp nhà trẻ không?
Ghế nhựa xếp chồng nhẹ và dễ cất, phù hợp với nhà trẻ nếu chân rộng, khó lật và chồng ghế không cao quá tầm vai người lớn. Chồng ghế nên để nơi trẻ không với tới hoặc không leo được, vì trẻ hay kéo chiếc trên cùng xuống.
Có cần quan tâm tới tiếng ồn khi chọn chất liệu không?
Có. Ghế nhựa nhẹ và ghế khung thép kéo trên sàn gạch gây tiếng rít lớn, nhân lên ba mươi chiếc trong một lớp là đáng kể. Nút chân bằng cao su mềm hoặc nỉ giảm tiếng ồn nhiều; nên hỏi nút chân thay thế có bán riêng không, vì nút mòn khá nhanh.
Bàn ghế tre có phù hợp cho trẻ mầm non không?
Tre và mây là vật liệu tự nhiên, nhẹ, có thể dùng cho trẻ nếu đã được xử lý chống mối mọt, chà nhẵn kỹ và không có nan tre sắc hay dây buộc lỏng. Tre dễ bị mốc trong mùa ẩm, nên đặt ở nơi khô ráo và kiểm định kỳ các mối buộc.