Giá phơi khăn cho lớp mầm non nên có mỗi trẻ một móc hoặc một thanh riêng, khoảng cách đủ để khăn không chạm vào nhau, đặt ở nơi có gió và tốt nhất có nắng gián tiếp, làm bằng vật liệu không gỉ, lau rửa được, và đủ thấp để trẻ tự treo nếu lớp tập cho trẻ tự lau mặt. Giá mà khăn chồng lên nhau, ẩm suốt ngày là giá làm hỏng mục đích của khăn riêng.
Khăn mặt cá nhân có mặt ở hầu hết lớp mầm non, nhưng giá phơi thường được mua như một món phụ, chọn theo kích thước phòng chứ không theo cách khăn khô. Bài này nói về chuyện mua: các kiểu giá, cách tính số móc và khoảng cách, vật liệu, tủ sấy khăn, và vài món đi kèm như giá úp cốc, kệ dép ở khu vệ sinh. Việc giặt, luộc khăn hằng ngày là phần việc của lớp và không nằm trong bài này.
Vì sao khăn phải tách nhau và phải khô
Khăn mặt của trẻ ẩm sau mỗi lần dùng. Khăn ẩm để lâu là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển, sinh mùi. Hai chiếc khăn ẩm chạm nhau thì những gì có trên khăn này có thể sang khăn kia. Ở lớp mầm non, nơi các bệnh lây qua tiếp xúc như đau mắt đỏ hay tay chân miệng có lúc bùng lên theo mùa, khăn riêng chỉ có ý nghĩa khi khăn thực sự riêng: không chạm nhau khi treo, không bị trẻ lấy nhầm.
Từ đó ra ba yêu cầu cho giá phơi khăn. Một: mỗi khăn một chỗ cố định, có dấu nhận biết. Hai: khoảng cách giữa các khăn đủ rộng để khăn treo thẳng không chạm nhau, kể cả khi có gió. Ba: không khí lưu thông quanh khăn, để khăn khô nhanh giữa hai lần dùng.
Giá phơi khăn kiểu tủ kín, cửa đóng, đặt trong góc phòng vệ sinh không cửa sổ thường thất bại ở yêu cầu thứ ba. Giá treo sát tường, móc dày đặc, khăn của hai mươi trẻ chồng mép lên nhau thì thất bại ở yêu cầu thứ hai. Phần lớn chuyện chọn giá là chọn sao cho đủ cả ba trong điều kiện diện tích có thật của lớp.
Trước khi xem hàng, nên đo ba thứ: chiều dài tường hoặc khoảng hiên có thể đặt giá, kích thước khăn lớp đang dùng khi treo, và sĩ số dự kiến của năm học. Có ba con số này, người mua loại được ngay những mẫu giá trông gọn nhưng không đủ chỗ cho khăn treo tách nhau, thay vì phát hiện ra sau khi đã lắp.
Các kiểu giá phơi khăn thường gặp
Mỗi kiểu có chỗ mạnh riêng. Nhiều trường dùng kết hợp: giá đứng ở hiên phơi nắng sau khi giặt, giá treo gần bồn rửa cho khăn đang dùng trong ngày.
| Kiểu giá | Điểm mạnh | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|
| Giá đứng nhiều tầng thanh ngang, inox | thoáng, nhiều chỗ, di chuyển ra nắng được | cần chân vững, tầng cách nhau đủ xa |
| Giá treo tường dạng móc hàng ngang | tiết kiệm diện tích, trẻ tự treo | khăn dễ chạm nhau nếu móc dày; tường ẩm |
| Giá có bánh xe | dời ra hiên, phòng có nắng | bánh phải khoá được, chân không lật khi trẻ kéo khăn |
| Tủ khăn có cửa lưới | che bụi, côn trùng | kém thoáng nếu cửa kín; phải để khăn khô trước khi đóng |
| Tủ sấy, tiệt trùng khăn | làm khô nhanh trong mùa nồm, mưa | cần điện an toàn, không thay cho giặt và phơi |
Với giá đứng nhiều tầng, khoảng cách giữa các tầng thanh phải lớn hơn chiều dài khăn treo gập đôi, nếu không thì khăn tầng trên phủ xuống khăn tầng dưới. Đây là lỗi rất hay gặp ở giá mua theo mẫu có sẵn, vốn thiết kế cho khăn nhỏ hơn khăn lớp đang dùng.
Tính số móc, khoảng cách và chiều cao
Số móc. Bằng sĩ số cộng vài chỗ dự phòng cho trẻ mới và khăn thay. Nếu lớp dùng hai khăn mỗi trẻ mỗi ngày, giá cần đủ chỗ cho cả khăn đang dùng lẫn khăn sạch chờ, hoặc tách thành hai giá.
Khoảng cách. Đo chiều rộng khăn khi treo trên móc hoặc gập trên thanh, cộng thêm một khoảng hở để khăn không chạm nhau khi có gió. Ví dụ giả định: khăn treo rộng khoảng 25 cm thì mỗi chỗ nên chiếm cỡ 30 cm trở lên; hai mươi lăm trẻ cần chừng bảy đến tám mét chiều dài thanh hoặc chia ra nhiều tầng.
Chiều cao móc khi trẻ tự treo. Ngang hoặc thấp hơn tầm vai trẻ thấp nhất. Nhưng đầu móc không được ngang tầm mắt trẻ khi cúi xuống bồn rửa.
Chiều cao khi chỉ cô treo. Cao hơn tầm với của trẻ, để trẻ không kéo lẫn khăn của bạn; khi đó khăn có thể treo dài hơn và khô nhanh hơn.
Dấu nhận biết. Mỗi chỗ một ký hiệu hình gắn chắc vào giá, khớp với ký hiệu trên khăn và trên tủ cá nhân; dấu nhận biết rõ thì trẻ ít lấy nhầm.
Vật liệu: inox loại nào, nhựa hay gỗ
Giá phơi khăn đứng trong môi trường ẩm suốt ngày, nên vật liệu không gỉ là yêu cầu đầu tiên. Inox là lựa chọn phổ biến. Trên thị trường thường gặp inox 304 và inox 201; inox 304 chống gỉ tốt hơn trong môi trường ẩm và gần biển, inox 201 rẻ hơn nhưng dễ xuất hiện đốm gỉ hơn theo thời gian. Không nên dựa vào cách thử bằng nam châm để phân biệt, vì kết quả không đáng tin; tốt hơn là ghi rõ loại inox trong đơn hàng và giữ hoá đơn.
Ngoài loại thép, chất lượng giá inox còn nằm ở các chi tiết: ống đủ dày để không cong khi trẻ đu tay, mối hàn mài nhẵn, đầu ống bịt kín, chân có nút cao su chống trượt và không rút ra được. Thanh treo nên tròn hoặc bo cạnh, không dùng thanh dẹt cạnh sắc.
Giá nhựa nhẹ, không gỉ, rẻ, nhưng dễ giòn sau vài năm, đặc biệt khi đặt ở hiên có nắng. Giá gỗ đẹp mắt nhưng gỗ ẩm liên tục dễ mốc đen ở chỗ khăn vắt, không hợp với khăn mặt hằng ngày trừ khi gỗ được xử lý và phủ chống nước rất kỹ.
Với móc treo gắn tường, ngoài vật liệu móc còn cần xem bức tường: tường khu vệ sinh thường ẩm, vít bắt vào tường ẩm dễ gỉ và lỏng; chọn vít inox và tắc kê phù hợp, kiểm lại sau mỗi học kỳ.
Tủ sấy và tiệt trùng khăn: hữu ích nhưng không thay được nắng gió
Ở miền Bắc mùa nồm và mùa mưa ở nhiều nơi, khăn phơi trong phòng có thể ẩm suốt từ sáng tới chiều. Một số trường dùng tủ sấy khăn có quạt gió nóng, đôi khi kèm đèn tia cực tím. Tủ sấy giúp khăn khô trong thời tiết xấu, nhưng nên coi là bổ sung, không thay cho việc giặt sạch và phơi nắng khi có thể.
Khi chọn tủ sấy, có vài điều về an toàn. Tủ dùng điện đặt trong lớp cần dây nguồn và ổ cắm ngoài tầm với của trẻ, có tiếp địa, có cầu dao riêng hoặc thiết bị chống giật. Bề mặt ngoài tủ không được nóng tới mức bỏng tay khi trẻ chạm vào. Tủ phải đứng vững hoặc bắt vào tường, vì trẻ hay đu vào tay nắm.
Nếu tủ có đèn tia cực tím, đèn phải tự tắt khi mở cửa, và trẻ không được nhìn trực tiếp vào đèn. Ánh sáng tia cực tím dùng để khử khuẩn có thể gây hại cho mắt và da khi tiếp xúc trực tiếp. Hỏi nhà cung cấp về cơ chế ngắt khi mở cửa, và ghi điều này vào biên bản nghiệm thu.
Tủ sấy chỉ hiệu quả khi khăn được treo tách nhau bên trong. Nhồi khăn kín tủ để tiết kiệm chỗ thì gió nóng không lưu thông, khăn ở giữa vẫn ẩm.
Giá úp cốc và kệ dép: hai món đi cùng khu vệ sinh
Hai món này thường được mua cùng đợt với giá phơi khăn, và chịu chung một điều kiện ẩm ướt. Về phía người mua, những điểm sau đáng xem.
- Giá úp cốc: mỗi cốc một chỗ, cốc úp ngược trên thanh hoặc giá có lỗ thoáng để nước chảy và khô; khay hứng nước bên dưới tháo ra rửa được.
- Giá cốc có cửa: che bụi nhưng phải có lỗ thoáng; cốc úp ẩm trong tủ kín lâu ngày sẽ có mùi.
- Chất liệu giá cốc: inox chống gỉ hoặc nhựa chịu nhiệt nếu lớp tráng cốc bằng nước nóng; tránh khay có góc khuất khó cọ.
- Kệ dép: đáy lưới hoặc nan thoáng để nước và cát rơi xuống, ngăn đủ cao để dép trẻ đặt không chồng nhau.
- Chiều cao kệ dép: thấp, trẻ ngồi xuống là tự lấy và cất được; kệ cao nhiều tầng nên cố định vào tường.
- Vị trí: giá cốc xa khu bồn cầu, kệ dép gần lối vào khu vệ sinh, giá khăn ở nơi có gió; ba món không chen chúc một góc.
Cả ba món đều nên mua theo cùng một bộ ký hiệu nhận biết: ký hiệu của mỗi trẻ ở móc khăn, ở chỗ úp cốc và ở ngăn dép giống nhau. Khi đặt hàng, hỏi nhà cung cấp có gắn sẵn khung ký hiệu cho cả ba món không, để không phải tự dán băng keo về sau, thứ vừa bong vừa đọng bẩn ở chỗ ẩm.
Kiểm giá phơi khăn khi nhận hàng và sau mỗi học kỳ
Giá phơi khăn đơn giản nên hay được nhận về mà không ai kiểm. Vài phút theo danh sách dưới đây tránh được phần lớn rắc rối về sau.
- Đối chiếu loại inox, kích thước, số móc với đơn hàng; ghi lại trên biên bản nhận hàng.
- Treo thử khăn thật của lớp lên mọi tầng: khăn tầng trên không phủ xuống khăn tầng dưới, khăn cạnh nhau không chạm nhau.
- Lay giá từ phía trẻ đứng: chân không lắc, giá không nghiêng; giá có bánh xe thì khoá bánh rồi đẩy thử.
- Sờ toàn bộ thanh, mối hàn, đầu ống: không cạnh sắc, không xỉ hàn, nút bịt và nút chân gắn chắc.
- Với giá treo tường: kéo thử từng móc, kiểm vít và tắc kê không xoay.
- Sau mỗi học kỳ: tìm đốm gỉ ở mối hàn và chân giá, vết mốc ở chỗ khăn vắt, móc cong hay lỏng; ghi kết quả vào sổ tài sản.
Đốm gỉ nhỏ phát hiện sớm thường lau sạch được bằng chất tẩy phù hợp với inox; để lâu, gỉ ăn vào mối hàn thì phải thay cả thanh. Chân giá mất nút cao su vừa làm xước sàn vừa để lại một vật nhỏ ở đâu đó trong phòng, nên khi thấy thiếu nút thì tìm cho ra.
Câu hỏi thường gặp
Giá phơi khăn mầm non nên làm bằng inox 304 hay 201?
Inox 304 chống gỉ tốt hơn trong môi trường ẩm, hợp với khu vệ sinh và vùng gần biển, nên được nhiều trường chọn cho đồ dùng lâu năm. Inox 201 rẻ hơn nhưng dễ có đốm gỉ theo thời gian. Nên ghi rõ loại inox trong đơn hàng và giữ hoá đơn để đối chiếu khi bảo hành.
Khăn mặt của trẻ ở lớp có nên treo trong phòng vệ sinh không?
Nếu phòng vệ sinh có cửa sổ, thông gió tốt và giá đặt xa khu bồn cầu thì vẫn dùng được. Nếu phòng kín và ẩm, nên đặt giá ở hành lang, hiên hay góc lớp có gió và tốt nhất có nắng gián tiếp, để khăn khô nhanh giữa các lần dùng.
Ở nhà có cần giá phơi khăn riêng cho bé không?
Không bắt buộc, nhưng khăn của bé nên có một móc riêng, không chồng lên khăn người lớn, đặt nơi thoáng và vừa tầm để bé tự treo. Một vài móc treo đầu tròn gắn thấp ở phòng tắm có cửa sổ thường là đủ cho một gia đình.
Tủ sấy khăn có đèn tia cực tím có an toàn cho trẻ không?
An toàn khi đèn tự tắt lúc mở cửa, tủ đặt chắc chắn, dây điện ngoài tầm với và bề mặt không nóng. Không để trẻ nhìn trực tiếp vào đèn. Nhà trường nên hỏi nhà cung cấp về cơ chế ngắt và kiểm cơ chế này khi nhận hàng.
Bao lâu nên thay giá phơi khăn?
Không có hạn cố định. Nên thay hoặc sửa khi giá có đốm gỉ lan rộng, thanh cong, mối hàn nứt, chân lung lay hay nút chân bị mất. Giá treo tường cần kiểm vít mỗi học kỳ vì tường khu vệ sinh ẩm làm vít lỏng nhanh hơn ở nơi khô.