So với lớp 3–4 tuổi, lớp mẫu giáo 5–6 tuổi cần thêm đồ đo lường và khám phá, đồ xây dựng nhiều chi tiết hơn, góc sách phong phú hơn, đồ làm quen chữ và số dưới dạng trò chơi, cùng dụng cụ tạo hình mà trẻ tự dùng như kéo, keo. Đồ sinh hoạt hỗ trợ (bô, bậc kê thấp) giảm đi vì trẻ tự phục vụ được nhiều. Danh mục tối thiểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo có phần riêng cho nhóm 5–6 tuổi, là căn cứ khi lập danh sách.
Lớp mẫu giáo lớn cũng là lớp dễ bị mua sai nhất, vì áp lực "chuẩn bị vào lớp 1" khiến nhiều nơi mua vở tập tô, bảng con, bàn ghế kiểu học sinh tiểu học. Bài này nêu đồ nên thêm theo từng góc, món không nên mua và lý do, rồi cách xử lý khi lớp nhận lại đồ cũ của khối dưới.
Đồ cần thêm theo từng góc
Cách lớp mẫu giáo lớn chia góc khác nhau giữa các trường, nhưng nhu cầu đồ thường theo các nhóm sau. Bảng chỉ nêu phần cần thêm so với lớp bé, không nhắc lại đồ chung:
| Góc hoặc hoạt động | Đồ cần thêm ở lớp 5–6 tuổi | Vì sao |
|---|---|---|
| Toán | Bộ đếm nhiều chi tiết, bộ tách gộp nhóm, đồng hồ cát, cân thăng bằng, thước dây vải, que đo | Trẻ bắt đầu so sánh, đo bằng vật, đếm xa hơn |
| Khám phá | Kính lúp, khay quan sát, bộ đồ chơi chìm nổi, ống nghiệm nhựa to, đồ trồng cây, nam châm thanh lớn bọc kín | Trẻ đặt câu hỏi và thử nghiệm đơn giản |
| Xây dựng | Khối gỗ nhiều hình, bộ lắp ghép chi tiết vừa, mô hình nhà và phương tiện | Trẻ xây theo ý tưởng, chơi nhóm lâu hơn |
| Ngôn ngữ | Kệ sách nhiều đầu sách hơn, thẻ chữ cái dạng chơi, rối và tranh kể chuyện theo trình tự | Trẻ kể lại, đoán chữ qua trò chơi |
| Tạo hình | Kéo trẻ em, keo dán, vật liệu tạo hình đa dạng, giá vẽ đứng | Bàn tay khéo hơn, cần đồ trẻ tự dùng |
| Vận động | Dây nhảy, vòng, bóng đá, bóng ném, đồ chơi thăng bằng | Trẻ chơi trò có luật, theo nhóm |
Nam châm cho góc khám phá nên là loại thanh lớn, bọc nhựa kín, không bong ra viên nhỏ; nam châm nhỏ rời không đưa vào lớp có chung sân chơi hay phòng với trẻ bé hơn. Kính lúp chọn loại khung nhựa, mặt kính không sắc cạnh.
Góc sách và đồ làm quen chữ: chơi chứ không phải học viết
Chương trình giáo dục mầm non cho trẻ 5–6 tuổi làm quen với chữ viết qua hoạt động chơi, kể chuyện, nhận ra chữ quen trong môi trường xung quanh. Vì vậy đồ cho phần này là sách tranh, thẻ chữ cái lớn để chơi tìm, ghép; bảng gắn nỉ, chữ bằng gỗ hay xốp để trẻ cầm, xếp; đồ chơi in dấu. Không phải vở tập tô chữ hay bảng con để luyện viết theo dòng kẻ.
Lý do không chỉ là sư phạm. Quy định của ngành giáo dục đã nhiều lần nhắc việc không dạy trước chương trình lớp 1 cho trẻ mẫu giáo; việc mua sắm vở tập viết đồng loạt cho lớp dễ tạo áp lực cho cả cô, trẻ lẫn phụ huynh. Nếu cô thấy cần cho trẻ làm quen với cách cầm bút, đồ phù hợp là bút sáp to, bút chì ba cạnh, giấy trắng khổ lớn để vẽ tự do, không phải sách luyện chữ.
Góc sách lớp lớn cần nhiều đầu sách hơn và thay mới định kỳ. Thay vì mua một lần thật nhiều, lớp có thể luân chuyển sách với thư viện trường hoặc các lớp khác. Chọn sách tranh cụ thể cho trẻ là chủ đề rộng, ở đây chỉ cần ghi số đầu sách tối thiểu, kệ trưng bày quay bìa và hộp đựng sách hỏng chờ sửa.
Những món không nên mua cho lớp mẫu giáo lớn
Danh sách dưới không phải luật cấm, mà là những món hay được mua theo thói quen hoặc theo lời mời chào, trong khi không phù hợp với cách lớp mẫu giáo tổ chức hoạt động:
- Vở tập tô, tập viết chữ theo dòng kẻ phát cho cả lớp. Dễ biến giờ chơi thành giờ luyện chữ, trái tinh thần không dạy trước chương trình lớp 1.
- Bàn ghế xếp hàng kiểu lớp học tiểu học. Lớp mẫu giáo cần bàn nhóm, di chuyển được, để trẻ ngồi đối diện nhau, chơi góc và hoạt động chung.
- Bộ đồ "đúng chuẩn thông tư" đóng gói sẵn mua trọn. Nhiều món trong đó lớp đã có; nên tách từng món ra đối chiếu với đồ hiện có.
- Thiết bị có màn hình cho trẻ tự dùng. Nếu cần trình chiếu thì là thiết bị của cô, dùng ngắn, có mục đích rõ.
- Phiếu bài tập in sẵn số lượng lớn. Hết nhanh, tốn giấy, và khiến hoạt động nghiêng về làm bài thay vì trải nghiệm.
- Đồ chơi có tính đối kháng bạo lực như súng bắn đạn. Đạn nhỏ còn là nguy cơ hóc với trẻ bé dùng chung không gian.
Nếu phụ huynh đề nghị mua những món trên, cô và nhà trường có thể giải thích dựa trên chương trình và quy định hiện hành, đồng thời giới thiệu cách lớp chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 qua thói quen tự phục vụ, nghe hiểu, chơi cùng bạn.
Đồ sinh hoạt: giảm đồ hỗ trợ, tăng đồ tự phục vụ
Bớt bô, bậc kê thấp. Phần lớn trẻ 5–6 tuổi đã dùng nhà vệ sinh cỡ trẻ em, nên đồ hỗ trợ chỉ giữ vài chiếc cho trẻ cần. Chỗ trống dùng cho đồ khác.
Thêm đồ trẻ tự lấy, tự cất. Giá cốc, giá khăn, kệ dép ở tầm cao trẻ với được; thùng phân loại rác để trẻ tự bỏ; khay chia đồ ăn mà trẻ tự bưng được ở những lớp tổ chức trẻ tự phục vụ.
Đồ trực nhật. Chổi, hót rác, khăn lau cỡ nhỏ cho trẻ làm việc vừa sức. Món này rẻ mà hay bị quên trong danh sách.
Tủ cá nhân lớn hơn. Trẻ lớn mang nhiều đồ hơn: sản phẩm tạo hình mang về, áo khoác, đồ thay. Ngăn tủ cá nhân của lớp bé thường không đủ chỗ.
Bàn ghế đúng cỡ. Trẻ 5–6 tuổi cao hơn hẳn; dùng lại bàn ghế lớp bé khiến trẻ ngồi khom. Kích thước theo nhóm tuổi nằm ở chuyên mục bàn ghế và nội thất lớp.
Bảng hình việc trong ngày. Một bảng gắn thẻ hình (không cần chữ) cho các việc trực nhật, chia đồ ăn, tưới cây giúp trẻ lớn biết hôm nay ai làm gì. Đồ đơn giản, cô làm được, nhưng nên có tên trong danh sách để có chỗ treo và vật liệu làm thẻ bền.
Đồ cho giờ ngủ vẫn cần đủ. Trẻ lớn ngủ trưa ngắn hơn nhưng vẫn cần chỗ ngủ riêng, chăn gối riêng. Đừng vì "lớp lớn ít ngủ" mà cắt bớt phần này khỏi danh sách.
Đồ cho hoạt động ngoài trời và việc vườn của lớp lớn
Trẻ 5–6 tuổi bắt đầu tham gia những việc có mục đích: tưới cây, nhặt lá, trồng hạt rồi theo dõi cây lên. Nhiều trường có góc thiên nhiên hoặc mảnh vườn nhỏ cho lớp lớn chăm. Đồ cho phần này ít và rẻ nhưng thường không có trong danh sách: bình tưới nhỏ trẻ cầm được, xẻng và cào nhựa cỡ trẻ em, găng tay vải, chậu hoặc khay ươm, rổ đựng lá, chỗ treo dụng cụ sau khi dùng.
Đồ chơi cát và nước cho lớp lớn cũng khác lớp bé: thêm ống, máng dẫn nước, phễu, cốc đong để trẻ thử dòng chảy và so sánh nhiều ít. Tất cả nên là nhựa dày hoặc gỗ, cạnh tròn, rửa phơi được.
Thiết bị sân chơi cố định như cầu trượt, nhà leo là phần dùng chung toàn trường, có bài riêng ở chuyên mục thiết bị sân chơi ngoài trời. Ở danh sách lớp, bạn chỉ cần ghi đồ di động mà lớp tự quản lý, kèm thùng hoặc giỏ để mang ra sân và mang về. Thiếu thùng mang đồ là lý do phổ biến khiến đồ ngoài trời bị bỏ quên ngoài sân, phơi mưa nắng rồi hỏng sớm.
Nhận lại đồ cũ từ khối dưới: kiểm trước khi xếp lên kệ
Đầu năm học, lớp mẫu giáo lớn thường thừa hưởng một phần đồ của lớp năm trước. Để đồ cũ không làm danh sách "trông đủ" mà thật ra thiếu, bạn đi theo thứ tự:
- Đếm và ghi tình trạng từng món nhận lại: dùng tốt, cần sửa, cần thay.
- So với phần danh mục của nhóm 5–6 tuổi, gạch những món đồ cũ đáp ứng được phần mô tả.
- Tách đồ quá đơn giản với trẻ lớn (khối to ít chi tiết, đồ thả hình) để chuyển xuống lớp bé hoặc đưa vào kho.
- Vệ sinh toàn bộ đồ nhận lại trước khi đưa lên kệ.
- Ghi phần còn thiếu vào danh sách mua, kèm lý do cụ thể.
Bước tách đồ quá đơn giản thường bị bỏ qua vì đồ vẫn còn tốt. Nhưng để chúng trên kệ lớp lớn chiếm chỗ của đồ phù hợp hơn, trẻ chơi vài lần rồi bỏ, kệ trông đầy mà góc chơi vẫn nghèo.
Đồ cũ còn tốt mà không hợp với lớp lớn vẫn có giá trị với lớp khác, nên chuyển qua sổ theo dõi thay vì để một góc trong lớp. Việc rà soát và kiểm kê đầu năm có bài riêng trong chuyên mục này.
Chuẩn bị vào lớp 1 qua đồ dùng: đúng chỗ, đúng mức
Ba mẹ thường hỏi lớp lớn có "chuẩn bị cho con vào lớp 1" không. Ở góc đồ dùng, sự chuẩn bị hợp lý là những đồ giúp trẻ tự lập và làm việc cùng bạn: balo trẻ tự đeo, tự mở; hộp bút có ít món để trẻ tự quản lý; đồ chơi có luật để trẻ học chờ lượt; đồ ghép hình, xây dựng giúp trẻ tập trung lâu hơn.
Một số trường tổ chức hoạt động làm quen trường tiểu học như tham quan lớp 1 vào cuối năm. Hoạt động này không đòi hỏi thiết bị riêng. Không cần mua đồ dùng học sinh lớp 1 cho lớp mẫu giáo; danh sách đồ dùng lớp 1 do trường tiểu học thông báo khi trẻ nhập học.
Người lập danh sách nên coi tiêu chí "chuẩn bị vào lớp 1" như một bộ lọc: món nào giúp trẻ tự lập, giao tiếp, tò mò thì ưu tiên; món nào chỉ làm lớp mẫu giáo giống lớp tiểu học thu nhỏ thì cân nhắc kỹ. Bộ lọc này giúp ngân sách có hạn đi đúng chỗ hơn, và cũng là câu trả lời rõ ràng khi có người đề nghị thêm món "để con quen với lớp 1": hỏi món đó giúp trẻ tự lập hay chỉ giúp lớp trông giống lớp học tiểu học.
Câu hỏi thường gặp
Lớp mẫu giáo lớn có cần bảng phấn hay bảng viết không?
Lớp có thể có bảng cho cô dùng và bảng trống cho trẻ vẽ tự do. Điều không nên là dùng bảng để luyện viết chữ theo dòng kẻ cho cả lớp. Nếu có bảng, đặt ở tầm thấp, cố định chắc vào tường hoặc chân đế rộng.
Có nên mua bộ đồ chơi khám phá khoa học cho lớp 5–6 tuổi không?
Có, ở mức đơn giản: kính lúp, khay quan sát, đồ chìm nổi, đồ trồng cây, nam châm thanh lớn bọc kín. Tránh bộ có hoá chất, dụng cụ thuỷ tinh hoặc chi tiết nhỏ rời. Mỗi món nên kiểm dấu hợp quy nếu là đồ chơi.
Đồ chơi lắp ghép chi tiết nhỏ có an toàn cho lớp lớn không?
Với trẻ 5–6 tuổi thường dùng được nếu đúng độ tuổi khuyến cáo trên nhãn và cô quan sát. Vấn đề là không gian chung: nếu lớp ghép hoặc dùng chung phòng với trẻ nhỏ hơn, chi tiết nhỏ phải cất trong hộp có nắp, ở nơi trẻ bé không với tới.
Phụ huynh yêu cầu lớp phát vở tập viết thì làm sao?
Nhà trường giải thích dựa trên chương trình giáo dục mầm non và quy định không dạy trước chương trình lớp 1, rồi nói rõ lớp chuẩn bị cho trẻ bằng cách nào: cầm bút qua vẽ tự do, làm quen chữ qua trò chơi, tự phục vụ. Nên có văn bản hiện hành để phụ huynh tham khảo.
Lớp lớn có cần số lượng đồ chơi nhiều hơn lớp bé không?
Không nhất thiết nhiều hơn, nhưng đa dạng hơn và nhiều chi tiết hơn. Trẻ lớn biết chờ lượt và chơi nhóm, nên một bộ xây dựng lớn có thể cho nhiều trẻ chơi chung. Đồ tiêu hao như giấy, keo, vật liệu tạo hình thì thường dùng nhiều hơn.
Đồ của lớp lớn cuối năm chuyển đi đâu?
Đồ còn tốt được kiểm, vệ sinh và ghi vào sổ để giao cho lớp lớn khoá sau hoặc chuyển sang lớp khác phù hợp. Đồ hỏng không sửa được đưa vào danh sách đề nghị thanh lý theo quy trình của trường.